Bản gốc tiếng Pháp · Dịch sang tiếng Việt
Comment un peuple, doté de cent/mille hommes, peut-il se soumettre non pas à une armée, ni à un camp de barbares contre lequel chacun devrait défendre sa vie et son sang, mais à un seul homme ? C'est la question que se pose Étienne de la Boétie, alors âgé de 16 ou 18 ans, lorsqu'il écrit le Discours de la Servitude Volontaire. Le titre du discours est révélateur : « Servitude Volontaire » est un oxymore : « Servitude » vient du latin « Servus » (esclave) et « Volontaire » du latin « voluntarius », qui désigne une action motivée par le libre-arbitre. On comprend dès lors que le jeune adolescent est intrigué par les mécanismes du pouvoir, ce qu'il laisse transparaître dans son discours, dans lequel il affirme : « Soyez donc résolus à ne plus servir et vous serez libres ». Le verbe « Soyez » est à l'impératif, à valeur de conseil. La Boétie s'adresse ici au peuple. Le terme « servir » dérive du latin « servus » (esclave) et désigne l'action de se soumettre, tandis que le terme « libres » confère à un état dans lequel nul n'est soumis à une force supérieure.
Làm thế nào một dân tộc, với hàng trăm ngàn người, lại có thể khuất phục không phải trước một đạo quân, cũng không phải trước một đám man rợ mà đáng lẽ mỗi người phải bảo vệ tính mạng và xương máu của mình, mà lại là trước một con người duy nhất? Đó là câu hỏi mà Étienne de la Boétie tự đặt ra, khi đó mới 16 hoặc 18 tuổi, lúc viết Diễn văn về Sự Phục tùng Tự nguyện. Nhan đề tác phẩm rất gợi mở: "Sự Phục tùng Tự nguyện" là một mâu thuẫn từ ngữ: "Phục tùng" xuất phát từ tiếng Latinh "Servus" (nô lệ), còn "Tự nguyện" từ "voluntarius", chỉ một hành động xuất phát từ ý chí tự do. Ta hiểu ngay rằng người thiếu niên ấy bị mê hoặc bởi các cơ chế quyền lực, điều ông để lộ trong bài diễn văn, trong đó ông khẳng định: "Vậy hãy kiên quyết không phục tùng nữa và các bạn sẽ được tự do". Động từ "Hãy" ở thể mệnh lệnh, mang giá trị khuyên bảo. Ở đây La Boétie đang nói với nhân dân. Từ "phục tùng" có gốc Latinh "servus" (nô lệ) và chỉ hành động khuất phục, trong khi từ "tự do" gắn với trạng thái mà không ai bị khuất phục trước bất kỳ quyền lực nào.
Cette phrase est composée de deux propositions, liées par la conjonction de coordination « et », ainsi qu'un lien de cause-conséquence. Autrement dit, si les peuples refusent la servitude, ils seront libres. Cette affirmation de la Boétie est donc bien en concordance avec le titre du discours : si les peuples ne sont pas libres, cela pourrait être parce qu'ils sont résolus à servir le tyran.
Câu này gồm hai mệnh đề, nối với nhau bằng liên từ đẳng lập "và", tạo thành một quan hệ nhân-quả. Nói cách khác, nếu dân chúng từ chối sự phục tùng, họ sẽ được tự do. Lời khẳng định này của La Boétie hoàn toàn phù hợp với nhan đề tác phẩm: nếu dân chúng không tự do, có thể là vì họ đã kiên quyết phục tùng tên bạo chúa.
Il s'agirait dès lors de se demander comment, dans le Discours de la Servitude Volontaire, la Boétie propose une réflexion sur la liberté, tout en mettant en lumière les obstacles de sa reconquête. Après avoir montré que le discours est une véritable réflexion sur la liberté, nous montrerons que des obstacles se posent tout de même sur le chemin de sa reconquête. Enfin, il s'agirait également de se demander si la liberté ne se rapproche pas plus d'un idéal moral que de quelque chose d'atteignable.
Vì vậy, cần đặt câu hỏi: trong Diễn văn về Sự Phục tùng Tự nguyện, La Boétie đề xuất một suy nghĩ về tự do như thế nào, đồng thời làm sáng tỏ những trở ngại trên con đường giành lại tự do? Sau khi chứng minh rằng tác phẩm là một suy nghĩ đích thực về tự do, chúng ta sẽ chỉ ra rằng những trở ngại vẫn hiện hữu trên con đường tái chinh phục. Cuối cùng, cần tự hỏi liệu tự do có gần với một lý tưởng đạo đức hơn là điều gì đó thực sự có thể đạt được hay không.
La Boétie affirme dans un premier temps que la liberté est naturelle à l'homme, et qu'elle doit être chérie, protégée, puisqu'il s'agit d'un bien si grand et si doux.
Il insiste également sur le caractère inné, naturel de cette notion en prenant exemple sur les animaux, qui chérissent eux aussi leur liberté, à l'image d'éléphants qui brisent leurs défenses pour se libérer, de bœufs qui gémissent sous le joug ou encore d'oiseaux qui se plaignent dans leurs cages. L'orateur célèbre les peuples ayant obtenu leur liberté face à ceux qui voulaient les asservir ; et les batailles si renommées de Miltiade, de Léonidas et de Thémistocle. Il cesse également d'exemple religieux pour démontrer ce caractère inné de la liberté : « La Nature, Ministre de Dieu, gouvernante des hommes, nous a tous créés, coulés en quelque sorte dans le même moule, pour nous montrer que nous sommes tous égaux, ou plutôt frères ». La Boétie relève donc l'importance de cette fraternité. Pour la maintenir, il est indispensable de reconnaître l'importance indéniable de la liberté : « Comment douter alors, que nous ne soyons libres, puisque nous sommes tous égaux ? ». La Boétie entreprend ici donc un éloge sans ambiguïté de la liberté.
Trước hết, La Boétie khẳng định rằng tự do là bản chất tự nhiên của con người, và tự do phải được trân trọng, bảo vệ, bởi đó là một điều tốt đẹp vô cùng lớn lao và dịu ngọt.
Ông cũng nhấn mạnh tính bẩm sinh, tự nhiên của khái niệm này qua những ví dụ về động vật, vốn cũng trân trọng tự do của mình — như hình ảnh những con voi bẻ gãy ngà để thoát thân, những con bò rên rỉ dưới ách, hay những con chim than thở trong lồng. Người diễn thuyết ca ngợi những dân tộc đã giành lại tự do trước những kẻ muốn nô dịch họ, và những trận đánh lừng danh của Miltiade, Léonidas và Thémistocle. Ông cũng dùng ví dụ tôn giáo để chứng minh tính bẩm sinh của tự do: "Thiên Nhiên, Thừa tướng của Thượng đế, người cai quản con người, đã tạo ra tất cả chúng ta, đúc chúng ta theo cùng một khuôn mẫu, để cho ta thấy rằng tất cả chúng ta đều bình đẳng, hay đúng hơn là anh em". La Boétie nhấn mạnh tầm quan trọng của tình huynh đệ này. Để duy trì nó, điều không thể thiếu là thừa nhận tầm quan trọng không thể phủ nhận của tự do: "Làm sao còn nghi ngờ rằng chúng ta không tự do, khi tất cả chúng ta đều bình đẳng?" La Boétie ở đây thực hiện một bài ca tụng tự do rõ ràng, không mơ hồ.
Après avoir entrepris cet éloge de la liberté, en la qualifiant de précieuse et naturelle, la Boétie se propose de venir en aide au peuple en lui explicitant les voies de sa reconquête. La Boétie présente la reconquête de la liberté comme une chose « facile ». La liberté étant inaliénable, elle peut être réacquise à tout instant. Le peuple peut alors prendre exemple sur des figures telles que celle d'Ulysse, qui pendant 10 ans, garda ses souvenirs de liberté d'Ithaque. La Boétie célèbre les figures de la résistance pour la liberté à travers des exemples antiques : « Harmodios, Aristogiton, Thrasybule, Brutus l'Ancien, Valérius et Dion conçurent un projet vertueux et l'exécutèrent avec bonheur » ; il fait ainsi l'éloge de ceux qui sont prêts à donner leur vie pour défendre la liberté : « Ils pensent moins à ce qu'ils endureront le temps d'une bataille, qu'à ce qu'ils endureront vaincus, eux, leurs enfants, et toute leur postérité ». La Boétie démystifie la figure du tyran, et démontre qu'il n'a pour seule base le peuple qu'il asservit puisque le tyran « n'a que deux yeux, deux mains, et un corps ». Il souligne le contraste marquant : ce ne sont pas deux camps égaux qui s'affrontent, mais le tyran, homme ordinaire, qui s'oppose aux habitants d'un nombre infini de villes. Ce rapport de force est mis en évidence dans la citation au cœur de notre réflexion : « Soyez résolus à ne plus servir, et vous voilà libres ». Si le peuple ne supporte plus le tyran, il verra ce dernier s'effondrer, tel un colosse aux pieds d'argile. Pour reconquérir la liberté, la Boétie affirme alors qu'il suffit d'un « simple vouloir ».
Sau khi thực hiện bài ca tụng về tự do, coi đó là quý giá và tự nhiên, La Boétie đề nghị giúp đỡ nhân dân bằng cách chỉ rõ những con đường tái chinh phục. La Boétie trình bày việc giành lại tự do như một điều "dễ dàng". Vì tự do là bất khả xâm phạm, nó có thể được lấy lại bất cứ lúc nào. Nhân dân có thể noi gương những nhân vật như Ulysse, người đã giữ gìn ký ức về tự do của xứ Ithaque suốt 10 năm. La Boétie ca ngợi những nhân vật kháng cự vì tự do qua các ví dụ cổ đại: "Harmodios, Aristogiton, Thrasybule, Brutus Già, Valérius và Dion đã hoạch định một kế hoạch cao cả và thực hiện nó thành công"; ông ca ngợi những người sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ tự do: "Họ ít nghĩ đến những gì họ sẽ chịu đựng trong thời gian một trận chiến, hơn là những gì họ sẽ chịu đựng khi bại trận, cả họ, con cái họ, và toàn bộ hậu thế của họ". La Boétie hóa giải hình ảnh tên bạo chúa và chứng minh rằng nền tảng duy nhất của hắn chính là nhân dân mà hắn nô dịch, vì bạo chúa "chỉ có hai mắt, hai tay và một thân xác". Ông nhấn mạnh sự tương phản rõ rệt: không phải hai phe ngang sức đối đầu, mà là tên bạo chúa — một kẻ tầm thường — chống lại cư dân của vô số thành phố. Tương quan lực lượng này được nêu bật qua trích dẫn trung tâm: "Hãy kiên quyết không phục tùng nữa, và các bạn sẽ tự do ngay thôi". Nếu nhân dân không còn chịu đựng tên bạo chúa, họ sẽ chứng kiến hắn sụp đổ như một tượng khổng lồ chân đất sét. Để giành lại tự do, La Boétie khẳng định chỉ cần một "ý muốn đơn giản".
Mais la Boétie démontre tout de même que ce « vouloir » n'est pas aussi « simple » qu'il n'y paraît. En effet, de nombreux obstacles se dressent sur le chemin de la reconquête.
Tout d'abord, le tyran est doté de nombreux stratagèmes pour abrutir, abêtir le peuple, et le maintenir asservi. Certains d'entre eux utilisent notamment la censure. En effet, un « esprit éclairé », un homme instruit, constitue une menace pour le tyran, qui essaye donc de limiter les connaissances du peuple, à l'image du Grand Sultan, ou encore des tyrans de la Rome antique, qui n'hésitaient pas à éliminer les intellectuels. La Boétie emprunte la formule panem et circenses (du pain et des jeux) à la tradition antique pour montrer que le tyran divertit le peuple, afin de le distraire, pour lui faire oublier toute notion de liberté.
Nhưng La Boétie cũng chứng minh rằng "ý muốn" đó không hề "đơn giản" như vẻ bề ngoài. Thật vậy, nhiều trở ngại chắn ngang con đường tái chinh phục.
Trước hết, tên bạo chúa có nhiều mưu lược để làm cho dân chúng ngu muội, tối tăm và duy trì sự phụ thuộc của họ. Một số kẻ sử dụng đặc biệt công cụ kiểm duyệt. Một "tinh thần khai sáng", một người có học thức, là mối đe dọa với tên bạo chúa, kẻ vì thế tìm cách hạn chế tri thức của nhân dân, như hình ảnh Đại Sultan, hay các bạo chúa La Mã cổ đại, những kẻ không ngần ngại tiêu diệt tầng lớp trí thức. La Boétie mượn công thức "bánh mì và trò chơi" (panem et circenses) từ truyền thống cổ đại để cho thấy bạo chúa giải trí cho dân nhằm đánh lạc hướng họ, khiến họ quên đi mọi ý niệm về tự do.
La Boétie utilise l'exemple de Cyrus, roi de Perse, qui, pour empêcher les Lydiens de se soulever, adopte une stratégie différente de la terreur. Il interdit les armes aux Lydiens et les incite à cultiver la musique, la danse et les fêtes. Le peuple, distrait, en oublie alors sa liberté. La Boétie note que c'est à cette occasion que s'est formé le mot « ludi » (jeu en latin). Pour maintenir son pouvoir, le tyran se repose également sur quelques proches, qui se soumettent à lui. La Boétie en dresse un portrait sévère, les décrivant comme « dotés d'une ambition ardente, et d'une avidité notable, [ils] se regroupent autour du tyran, pour avoir part au butin, et être, sous le grand tyran, autant de petits tyranneaux ». Enfin, le peuple étant ignorant, il est indispensable pour le tyran de l'impressionner, notamment en se donnant des titres tels que « tribelin du peuple », ou encore en jouant sur les superstitions du peuple. Ainsi, un Persan faisait de prétendus miracles en Alexandrie, tandis que les Grecs croyaient fermement que l'orteil de Pyrrhus, roi d'Épire, faisait des miracles et guérissait la rate.
La Boétie lấy ví dụ về Cyrus, vua Ba Tư, người để ngăn người Lydia nổi dậy đã áp dụng một chiến lược khác với khủng bố. Ông ta cấm người Lydia mang vũ khí và khuyến khích họ chơi nhạc, nhảy múa và tổ chức lễ hội. Nhân dân, bị phân tâm, lãng quên mất tự do của mình. La Boétie ghi nhận rằng chính dịp này đã hình thành từ "ludi" (trò chơi trong tiếng Latinh). Để duy trì quyền lực, bạo chúa cũng dựa vào một số người thân tín phục tùng hắn. La Boétie vẽ một chân dung gay gắt về họ, mô tả họ như "được phú với tham vọng nồng nhiệt và lòng tham đáng kể, [họ] tập hợp quanh tên bạo chúa để chia phần chiến lợi phẩm, và trở thành, dưới bạo chúa lớn, vô số tên bạo chúa nhỏ". Cuối cùng, do dân chúng ngu dốt, bạo chúa phải gây ấn tượng với họ, đặc biệt bằng cách tự phong những danh hiệu như "người bảo vệ dân chúng", hay bằng cách lợi dụng những mê tín của nhân dân. Như vậy, một người Ba Tư đã làm những phép màu giả tạo ở Alexandria, trong khi người Hy Lạp tin chắc rằng ngón chân của Pyrrhus, vua xứ Épire, có thể làm phép màu và chữa bệnh lá lách.
La Boétie souligne d'autres obstacles à la reconquête, qui sont les conséquences de la tyrannie sur les peuples. Selon lui, « la coutume nous apprend à céder ; et on ne peut trouver amer le poison de la servitude ». Il souligne ici la force de l'habitude. Le peuple peut être accoutumé à la tyrannie, au point d'en oublier sa liberté. « Il est étonnant de voir comment, dès qu'il est assujetti, le peuple tombe dans un si profond oubli de sa liberté qu'il lui est impossible de la reconquérir. Il obéit si bien, qu'à le voir, on aurait dit qu'il n'eut pas seulement perdu sa liberté, mais bien gagné sa servitude ». De plus, face à la tyrannie, le peuple perd toute force, tout courage de s'opposer au tyran : « Sous la tyrannie, les gens deviennent aisément lâches et efféminés ». L'auteur atténue toutefois la faute de ceux qui n'ont jamais connu la liberté, qui sont nés dans la servitude. Il semble s'adresser au peuple quand il dit : « tu ne sais pas quel goût délicieux a la liberté ».
Enfin, la Boétie montre que la tyrannie tenterait certaines personnes, puisqu'elle leur permettrait un certain confort, et leur permettrait également de se livrer au vice. Ils « admirent les trésors du Tyran [...], les éclats de sa magnificence » et « se jettent dans un feu qui ne peut manquer de les dévorer ». Le peuple est donc bien complice de son propre bourreau, il est comparé à un troupeau de moutons, tandis que le tyran, lui, est un boucher qui n'hésite pas à les éliminer.
La Boétie chỉ ra những trở ngại khác trên con đường tái chinh phục, vốn là hậu quả của chế độ chuyên chế đối với các dân tộc. Theo ông, "phong tục dạy chúng ta biết nhường bộ; và ta không thể thấy chất độc của sự phục tùng là đắng cay". Ông nhấn mạnh ở đây sức mạnh của thói quen. Nhân dân có thể quen với chế độ chuyên chế đến mức quên mất tự do của mình. "Thật đáng kinh ngạc khi thấy rằng, ngay khi bị khuất phục, dân chúng rơi vào một sự quên lãng sâu sắc đến mức tự do của họ trở nên không thể tái chinh phục. Họ vâng lời đến mức, nhìn vào họ, người ta sẽ nói rằng họ không chỉ mất tự do, mà còn giành được sự nô dịch của mình". Hơn nữa, trước chế độ chuyên chế, nhân dân mất hết sức mạnh, mất hết dũng khí để chống lại bạo chúa: "Dưới chế độ chuyên chế, mọi người dễ dàng trở nên hèn nhát và yếu đuối". Tuy nhiên tác giả giảm nhẹ tội lỗi của những kẻ chưa bao giờ biết tự do, sinh ra trong cảnh nô lệ. Ông dường như nói với nhân dân: "anh không biết tự do có vị ngọt ngào thế nào đâu".
Cuối cùng, La Boétie chỉ ra rằng chế độ chuyên chế sẽ cám dỗ một số người, vì nó mang lại cho họ sự thoải mái nhất định, và cũng cho phép họ buông thả vào tệ nạn. Họ "ngưỡng mộ kho báu của Bạo chúa [...], hào quang của sự huy hoàng của hắn" và "lao vào ngọn lửa mà không tránh khỏi bị thiêu rụi". Dân chúng vậy là đồng lõa với chính đao phủ của mình, được ví như một đàn cừu, trong khi tên bạo chúa là người đồ tể không ngần ngại tiêu diệt họ.
Mais bien que la Boétie exhorte les peuples à la liberté, et qu'il met en lumière les obstacles de sa reconquête, nous pouvons tout de même nous demander si, dans le Discours de la Servitude Volontaire, la liberté ne serait pas plutôt un idéal moral à atteindre, plus qu'une chose réellement atteignable.
Tout d'abord, nous pouvons affirmer que le Discours porte en réalité un discours humaniste, notamment à travers ses valeurs. L'Humanisme est un mouvement, fortement influent au XVIe siècle, qui vise à placer la foi en l'homme, qu'il pose au centre du monde. Le discours est fortement humaniste, puisqu'il fait allusion à la dignité de l'homme, qui est perçue avec sa liberté ; le discours affirme également que l'homme est libre de nature, et fait l'éloge de l'érudition, l'arme qui, selon la Boétie, est la plus efficace face à la tyrannie, en accord avec les valeurs humanistes qui croient à la perfectibilité de l'homme à travers l'érudition. Enfin, nous pouvons affirmer que le discours porté est fondamentalement humaniste car, selon l'orateur, la résistance la plus efficace n'est nulle autre que la résistance passive. La Boétie n'appelle en aucun cas à aucune forme de violence, il affirme à propos du tyran : « je ne veux pas que vous le heurtiez, ni que vous l'ébranliez, seulement que vous ne le supportiez plus ». C'est notamment pour ces raisons que Charles Augustin de Sainte-Beuve affirme que le discours de la Boétie est « un chef d'œuvre de seconde année de rhétorique, sans réel impact ».
Nhưng dù La Boétie thúc giục nhân dân hướng tới tự do và làm sáng tỏ những trở ngại trong việc tái chinh phục, chúng ta vẫn có thể tự hỏi liệu trong Diễn văn về Sự Phục tùng Tự nguyện, tự do có phải là một lý tưởng đạo đức cần đạt được hơn là điều gì đó thực sự có thể đạt được hay không.
Trước hết, chúng ta có thể khẳng định rằng tác phẩm thực chất mang một diễn ngôn nhân văn, đặc biệt qua các giá trị của nó. Chủ nghĩa Nhân văn là một phong trào có ảnh hưởng lớn vào thế kỷ XVI, nhằm đặt niềm tin vào con người, coi con người là trung tâm của thế giới. Tác phẩm mang tính nhân văn sâu sắc, vì nó gợi đến phẩm giá con người — được nhìn nhận gắn với tự do; tác phẩm cũng khẳng định con người tự do theo bản chất, và ca ngợi học vấn, vũ khí mà theo La Boétie là hiệu quả nhất trước chế độ chuyên chế, phù hợp với các giá trị nhân văn tin vào sự hoàn thiện của con người qua học vấn. Cuối cùng, chúng ta có thể khẳng định rằng bài diễn thuyết về cơ bản mang tính nhân văn vì, theo diễn giả, sự kháng cự hiệu quả nhất không gì khác hơn là sự kháng cự thụ động. La Boétie không kêu gọi bất kỳ hình thức bạo lực nào, ông khẳng định về tên bạo chúa: "Tôi không muốn các bạn đụng chạm đến hắn, cũng không muốn làm hắn lung lay, chỉ cần các bạn không còn chịu đựng hắn nữa thôi". Chính vì những lý do đó mà Charles Augustin de Sainte-Beuve khẳng định rằng bài diễn văn của La Boétie là "một kiệt tác của năm thứ hai tu từ học, không có tác động thực sự".
De plus, le discours de la Boétie est abstrait, à portée limitée. Bien que ce dernier se propose de combattre brillamment la servitude et la tyrannie, le discours reste plus exhortatif que prescriptif, puisque la Boétie ne propose pas de réel programme politique. De plus, la rhétorique de la Boétie est à portée limitée. Il multiplie les exemples antiques, tantôt pour dénoncer les tyrans (tels que Néron, Caligula, Claude), tantôt pour en faire leur éloge (Exemple de Cassius et Brutus le Jeune, qui brisèrent la servitude et moururent en essayant de ramener la liberté). Conformément au schéma humaniste, la Boétie est fortement influencé par les figures antiques, telles que Hérodote (le père de l'Histoire), Plutarque ou encore Salluste. Mais cette abondance de références antiques est à double tranchant. D'une part, elle participe au portrait de l'orateur (l'éthos en grec), en désignant la Boétie comme un orateur cultivé, intelligent. Mais, d'autre part, elle restreint l'œuvre à la population éduquée, c'est-à-dire l'élite sociale. De plus, la majorité des peuples du XVIe siècle étant analphabète, le discours n'arrive pas toujours à atteindre les personnes concernées (les personnes non éduquées, les « serviteurs volontaires »).
Hơn nữa, bài diễn văn của La Boétie mang tính trừu tượng, có tầm ảnh hưởng hạn chế. Dù nó đề xuất một cách xuất sắc việc chống lại nô dịch và chế độ chuyên chế, tác phẩm vẫn thiên về kêu gọi hơn là quy định, vì La Boétie không đề xuất một chương trình chính trị thực sự. Hơn nữa, thuật hùng biện của La Boétie có tầm ảnh hưởng hạn chế. Ông dùng nhiều ví dụ cổ đại, khi thì để tố cáo các bạo chúa (như Néron, Caligula, Claude), khi thì để ca ngợi họ (ví dụ về Cassius và Brutus Trẻ, những người đã phá vỡ sự nô dịch và chết khi cố gắng đem lại tự do). Phù hợp với lý tưởng nhân văn, La Boétie chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhân vật cổ đại, như Hérodote (cha đẻ của Lịch sử), Plutarque hay Salluste. Nhưng sự phong phú của những tham chiếu cổ đại này là con dao hai lưỡi. Một mặt, nó góp phần vào chân dung người diễn thuyết (tính cách đạo đức — éthos — theo nghĩa Hy Lạp), xác định La Boétie như một diễn giả có học vấn, thông minh. Nhưng mặt khác, nó thu hẹp tác phẩm chỉ dành cho tầng lớp có học, tức là giới tinh hoa xã hội. Hơn nữa, vì đại đa số dân chúng thế kỷ XVI mù chữ, bài diễn văn không phải lúc nào cũng tiếp cận được những người liên quan (những người không được giáo dục, những "kẻ phục tùng tự nguyện").
En conclusion, dans le Discours de la Servitude Volontaire, la Boétie affirme que la liberté est un bien à défendre et à entretenir. Il s'adresse au peuple, et lui montre comment la reconquérir ; selon lui, il suffit d'un simple vouloir. Mais ce « simple vouloir » peut être contrarié par de nombreux obstacles, tels que les stratagèmes du tyran, ou encore la force de l'habitude. Enfin, il est également possible de s'interroger quant à la portée du discours. En s'interrogeant ainsi sur les mécanismes du pouvoir, le discours se pose dans la lignée de romans tels que les Lettres persanes, roman épistolaire dans lequel des personnages étrangers sont surpris par les mécanismes de pouvoir inhabituels présents en France.
Tóm lại, trong Diễn văn về Sự Phục tùng Tự nguyện, La Boétie khẳng định rằng tự do là một tài sản cần bảo vệ và gìn giữ. Ông nói với nhân dân và chỉ cho họ cách tái chinh phục; theo ông, chỉ cần một ý muốn đơn giản là đủ. Nhưng "ý muốn đơn giản" đó có thể bị cản trở bởi nhiều trở ngại, như những mưu lược của tên bạo chúa hay sức mạnh của thói quen. Cuối cùng, cũng có thể đặt câu hỏi về tầm ảnh hưởng của bài diễn văn. Khi suy nghĩ về các cơ chế quyền lực như vậy, bài diễn văn đặt mình vào dòng chảy của những tác phẩm như Thư Ba Tư của Montesquieu, một tiểu thuyết thư tín trong đó các nhân vật nước ngoài ngạc nhiên trước những cơ chế quyền lực bất thường có mặt ở Pháp.
Đề bài: Phân tích câu « Soyez donc résolus à ne plus servir et vous serez libres. » ("Vậy hãy kiên quyết không phục tùng nữa và các bạn sẽ được tự do.") của La Boétie.
Làm thế nào một dân tộc, với hàng trăm ngàn người, lại có thể khuất phục không phải trước một đạo quân, cũng không phải trước một đám man rợ mà đáng lẽ mỗi người phải bảo vệ tính mạng và xương máu của mình, mà lại là trước một con người duy nhất? Đó là câu hỏi mà Étienne de la Boétie tự đặt ra, khi đó mới 16 hoặc 18 tuổi, lúc viết Diễn văn về Sự Phục tùng Tự nguyện. Nhan đề tác phẩm rất gợi mở: "Sự Phục tùng Tự nguyện" là một mâu thuẫn từ ngữ: "Phục tùng" xuất phát từ tiếng Latinh "Servus" (nô lệ), còn "Tự nguyện" từ "voluntarius", chỉ một hành động xuất phát từ ý chí tự do. Ta hiểu ngay rằng người thiếu niên ấy bị mê hoặc bởi các cơ chế quyền lực, điều ông để lộ trong bài diễn văn, trong đó ông khẳng định: "Vậy hãy kiên quyết không phục tùng nữa và các bạn sẽ được tự do". Động từ "Hãy" ở thể mệnh lệnh, mang giá trị khuyên bảo. Ở đây La Boétie đang nói với nhân dân. Từ "phục tùng" có gốc Latinh "servus" (nô lệ) và chỉ hành động khuất phục, trong khi từ "tự do" gắn với trạng thái mà không ai bị khuất phục trước bất kỳ quyền lực nào.
Câu này gồm hai mệnh đề, nối với nhau bằng liên từ đẳng lập "và", tạo thành một quan hệ nhân-quả. Nói cách khác, nếu dân chúng từ chối sự phục tùng, họ sẽ được tự do. Lời khẳng định này của La Boétie hoàn toàn phù hợp với nhan đề tác phẩm: nếu dân chúng không tự do, có thể là vì họ đã kiên quyết phục tùng tên bạo chúa.
Vì vậy, cần đặt câu hỏi: trong Diễn văn về Sự Phục tùng Tự nguyện, La Boétie đề xuất một suy nghĩ về tự do như thế nào, đồng thời làm sáng tỏ những trở ngại trên con đường giành lại tự do? Sau khi chứng minh rằng tác phẩm là một suy nghĩ đích thực về tự do, chúng ta sẽ chỉ ra rằng những trở ngại vẫn hiện hữu trên con đường tái chinh phục. Cuối cùng, cần tự hỏi liệu tự do có gần với một lý tưởng đạo đức hơn là điều gì đó thực sự có thể đạt được hay không.
Trước hết, La Boétie khẳng định rằng tự do là bản chất tự nhiên của con người, và tự do phải được trân trọng, bảo vệ, bởi đó là một điều tốt đẹp vô cùng lớn lao và dịu ngọt.
Ông cũng nhấn mạnh tính bẩm sinh, tự nhiên của khái niệm này qua những ví dụ về động vật, vốn cũng trân trọng tự do của mình — như hình ảnh những con voi bẻ gãy ngà để thoát thân, những con bò rên rỉ dưới ách, hay những con chim than thở trong lồng. Người diễn thuyết ca ngợi những dân tộc đã giành lại tự do trước những kẻ muốn nô dịch họ, và những trận đánh lừng danh của Miltiade, Léonidas và Thémistocle. Ông cũng dùng ví dụ tôn giáo để chứng minh tính bẩm sinh của tự do: "Thiên Nhiên, Thừa tướng của Thượng đế, người cai quản con người, đã tạo ra tất cả chúng ta, đúc chúng ta theo cùng một khuôn mẫu, để cho ta thấy rằng tất cả chúng ta đều bình đẳng, hay đúng hơn là anh em". La Boétie nhấn mạnh tầm quan trọng của tình huynh đệ này. Để duy trì nó, điều không thể thiếu là thừa nhận tầm quan trọng không thể phủ nhận của tự do: "Làm sao còn nghi ngờ rằng chúng ta không tự do, khi tất cả chúng ta đều bình đẳng?" La Boétie ở đây thực hiện một bài ca tụng tự do rõ ràng, không mơ hồ.
Sau khi thực hiện bài ca tụng về tự do, coi đó là quý giá và tự nhiên, La Boétie đề nghị giúp đỡ nhân dân bằng cách chỉ rõ những con đường tái chinh phục. La Boétie trình bày việc giành lại tự do như một điều "dễ dàng". Vì tự do là bất khả xâm phạm, nó có thể được lấy lại bất cứ lúc nào. Nhân dân có thể noi gương những nhân vật như Ulysse, người đã giữ gìn ký ức về tự do của xứ Ithaque suốt 10 năm. La Boétie ca ngợi những nhân vật kháng cự vì tự do qua các ví dụ cổ đại: "Harmodios, Aristogiton, Thrasybule, Brutus Già, Valérius và Dion đã hoạch định một kế hoạch cao cả và thực hiện nó thành công"; ông ca ngợi những người sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ tự do: "Họ ít nghĩ đến những gì họ sẽ chịu đựng trong thời gian một trận chiến, hơn là những gì họ sẽ chịu đựng khi bại trận, cả họ, con cái họ, và toàn bộ hậu thế của họ". La Boétie hóa giải hình ảnh tên bạo chúa và chứng minh rằng nền tảng duy nhất của hắn chính là nhân dân mà hắn nô dịch, vì bạo chúa "chỉ có hai mắt, hai tay và một thân xác". Ông nhấn mạnh sự tương phản rõ rệt: không phải hai phe ngang sức đối đầu, mà là tên bạo chúa — một kẻ tầm thường — chống lại cư dân của vô số thành phố. Tương quan lực lượng này được nêu bật qua trích dẫn trung tâm: "Hãy kiên quyết không phục tùng nữa, và các bạn sẽ tự do ngay thôi". Nếu nhân dân không còn chịu đựng tên bạo chúa, họ sẽ chứng kiến hắn sụp đổ như một tượng khổng lồ chân đất sét. Để giành lại tự do, La Boétie khẳng định chỉ cần một "ý muốn đơn giản".
Nhưng La Boétie cũng chứng minh rằng "ý muốn" đó không hề "đơn giản" như vẻ bề ngoài. Thật vậy, nhiều trở ngại chắn ngang con đường tái chinh phục.
Trước hết, tên bạo chúa có nhiều mưu lược để làm cho dân chúng ngu muội, tối tăm và duy trì sự phụ thuộc của họ. Một số kẻ sử dụng đặc biệt công cụ kiểm duyệt. Một "tinh thần khai sáng", một người có học thức, là mối đe dọa với tên bạo chúa, kẻ vì thế tìm cách hạn chế tri thức của nhân dân, như hình ảnh Đại Sultan, hay các bạo chúa La Mã cổ đại, những kẻ không ngần ngại tiêu diệt tầng lớp trí thức. La Boétie mượn công thức "bánh mì và trò chơi" (panem et circenses) từ truyền thống cổ đại để cho thấy bạo chúa giải trí cho dân nhằm đánh lạc hướng họ, khiến họ quên đi mọi ý niệm về tự do.
La Boétie lấy ví dụ về Cyrus, vua Ba Tư, người để ngăn người Lydia nổi dậy đã áp dụng một chiến lược khác với khủng bố. Ông ta cấm người Lydia mang vũ khí và khuyến khích họ chơi nhạc, nhảy múa và tổ chức lễ hội. Nhân dân, bị phân tâm, lãng quên mất tự do của mình. La Boétie ghi nhận rằng chính dịp này đã hình thành từ "ludi" (trò chơi trong tiếng Latinh). Để duy trì quyền lực, bạo chúa cũng dựa vào một số người thân tín phục tùng hắn. La Boétie vẽ một chân dung gay gắt về họ, mô tả họ như "được phú với tham vọng nồng nhiệt và lòng tham đáng kể, [họ] tập hợp quanh tên bạo chúa để chia phần chiến lợi phẩm, và trở thành, dưới bạo chúa lớn, vô số tên bạo chúa nhỏ". Cuối cùng, do dân chúng ngu dốt, bạo chúa phải gây ấn tượng với họ, đặc biệt bằng cách tự phong những danh hiệu như "người bảo vệ dân chúng", hay bằng cách lợi dụng những mê tín của nhân dân. Như vậy, một người Ba Tư đã làm những phép màu giả tạo ở Alexandria, trong khi người Hy Lạp tin chắc rằng ngón chân của Pyrrhus, vua xứ Épire, có thể làm phép màu và chữa bệnh lá lách.
La Boétie chỉ ra những trở ngại khác trên con đường tái chinh phục, vốn là hậu quả của chế độ chuyên chế đối với các dân tộc. Theo ông, "phong tục dạy chúng ta biết nhường bộ; và ta không thể thấy chất độc của sự phục tùng là đắng cay". Ông nhấn mạnh ở đây sức mạnh của thói quen. Nhân dân có thể quen với chế độ chuyên chế đến mức quên mất tự do của mình. "Thật đáng kinh ngạc khi thấy rằng, ngay khi bị khuất phục, dân chúng rơi vào một sự quên lãng sâu sắc đến mức tự do của họ trở nên không thể tái chinh phục. Họ vâng lời đến mức, nhìn vào họ, người ta sẽ nói rằng họ không chỉ mất tự do, mà còn giành được sự nô dịch của mình". Hơn nữa, trước chế độ chuyên chế, nhân dân mất hết sức mạnh, mất hết dũng khí để chống lại bạo chúa: "Dưới chế độ chuyên chế, mọi người dễ dàng trở nên hèn nhát và yếu đuối". Tuy nhiên tác giả giảm nhẹ tội lỗi của những kẻ chưa bao giờ biết tự do, sinh ra trong cảnh nô lệ. Ông dường như nói với nhân dân: "anh không biết tự do có vị ngọt ngào thế nào đâu".
Cuối cùng, La Boétie chỉ ra rằng chế độ chuyên chế sẽ cám dỗ một số người, vì nó mang lại cho họ sự thoải mái nhất định, và cũng cho phép họ buông thả vào tệ nạn. Họ "ngưỡng mộ kho báu của Bạo chúa [...], hào quang của sự huy hoàng của hắn" và "lao vào ngọn lửa mà không tránh khỏi bị thiêu rụi". Dân chúng vậy là đồng lõa với chính đao phủ của mình, được ví như một đàn cừu, trong khi tên bạo chúa là người đồ tể không ngần ngại tiêu diệt họ.
Nhưng dù La Boétie thúc giục nhân dân hướng tới tự do và làm sáng tỏ những trở ngại trong việc tái chinh phục, chúng ta vẫn có thể tự hỏi liệu trong Diễn văn về Sự Phục tùng Tự nguyện, tự do có phải là một lý tưởng đạo đức cần đạt được hơn là điều gì đó thực sự có thể đạt được hay không.
Trước hết, chúng ta có thể khẳng định rằng tác phẩm thực chất mang một diễn ngôn nhân văn, đặc biệt qua các giá trị của nó. Chủ nghĩa Nhân văn là một phong trào có ảnh hưởng lớn vào thế kỷ XVI, nhằm đặt niềm tin vào con người, coi con người là trung tâm của thế giới. Tác phẩm mang tính nhân văn sâu sắc, vì nó gợi đến phẩm giá con người — được nhìn nhận gắn với tự do; tác phẩm cũng khẳng định con người tự do theo bản chất, và ca ngợi học vấn, vũ khí mà theo La Boétie là hiệu quả nhất trước chế độ chuyên chế, phù hợp với các giá trị nhân văn tin vào sự hoàn thiện của con người qua học vấn. Cuối cùng, chúng ta có thể khẳng định rằng bài diễn thuyết về cơ bản mang tính nhân văn vì, theo diễn giả, sự kháng cự hiệu quả nhất không gì khác hơn là sự kháng cự thụ động. La Boétie không kêu gọi bất kỳ hình thức bạo lực nào, ông khẳng định về tên bạo chúa: "Tôi không muốn các bạn đụng chạm đến hắn, cũng không muốn làm hắn lung lay, chỉ cần các bạn không còn chịu đựng hắn nữa thôi". Chính vì những lý do đó mà Charles Augustin de Sainte-Beuve khẳng định rằng bài diễn văn của La Boétie là "một kiệt tác của năm thứ hai tu từ học, không có tác động thực sự".
Hơn nữa, bài diễn văn của La Boétie mang tính trừu tượng, có tầm ảnh hưởng hạn chế. Dù nó đề xuất một cách xuất sắc việc chống lại nô dịch và chế độ chuyên chế, tác phẩm vẫn thiên về kêu gọi hơn là quy định, vì La Boétie không đề xuất một chương trình chính trị thực sự. Hơn nữa, thuật hùng biện của La Boétie có tầm ảnh hưởng hạn chế. Ông dùng nhiều ví dụ cổ đại, khi thì để tố cáo các bạo chúa (như Néron, Caligula, Claude), khi thì để ca ngợi họ (ví dụ về Cassius và Brutus Trẻ, những người đã phá vỡ sự nô dịch và chết khi cố gắng đem lại tự do). Phù hợp với lý tưởng nhân văn, La Boétie chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhân vật cổ đại, như Hérodote (cha đẻ của Lịch sử), Plutarque hay Salluste. Nhưng sự phong phú của những tham chiếu cổ đại này là con dao hai lưỡi. Một mặt, nó góp phần vào chân dung người diễn thuyết (tính cách đạo đức — éthos — theo nghĩa Hy Lạp), xác định La Boétie như một diễn giả có học vấn, thông minh. Nhưng mặt khác, nó thu hẹp tác phẩm chỉ dành cho tầng lớp có học, tức là giới tinh hoa xã hội. Hơn nữa, vì đại đa số dân chúng thế kỷ XVI mù chữ, bài diễn văn không phải lúc nào cũng tiếp cận được những người liên quan (những người không được giáo dục, những "kẻ phục tùng tự nguyện").
Tóm lại, trong Diễn văn về Sự Phục tùng Tự nguyện, La Boétie khẳng định rằng tự do là một tài sản cần bảo vệ và gìn giữ. Ông nói với nhân dân và chỉ cho họ cách tái chinh phục; theo ông, chỉ cần một ý muốn đơn giản là đủ. Nhưng "ý muốn đơn giản" đó có thể bị cản trở bởi nhiều trở ngại, như những mưu lược của tên bạo chúa hay sức mạnh của thói quen. Cuối cùng, cũng có thể đặt câu hỏi về tầm ảnh hưởng của bài diễn văn. Khi suy nghĩ về các cơ chế quyền lực như vậy, bài diễn văn đặt mình vào dòng chảy của những tác phẩm như Thư Ba Tư của Montesquieu, một tiểu thuyết thư tín trong đó các nhân vật nước ngoài ngạc nhiên trước những cơ chế quyền lực bất thường có mặt ở Pháp.
(−) Attention toutefois à la structure de vos idées : des maladresses dans le plan, notamment au I, et plus ponctuellement au III.